BookBridge · Báo cáo đề xuất giải pháp

Không để học sinh phải chờ sách mới được học

Giải pháp chuyển tiếp hợp pháp, phụ huynh không phải trả thêm chi phí, và kết thúc khi sách chính thức về đủ.

Một lớp học ở Việt Nam với các dãy bàn hai chỗ ngồi
Ảnh minh họa: “Classroom in Vietnam” của Phat14082005, giấy phép CC BY-SA 4.0, đã thu nhỏ.

Danh mục hình

Danh mục bảng

Danh mục từ viết tắt

  • Bộ GD&ĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
  • Sở: Sở Giáo dục và Đào tạo
  • THCS: trung học cơ sở
  • TC1 đến TC6: sáu tiêu chí đánh giá giải pháp (mục 2.3)
  • CC BY-SA: giấy phép Creative Commons Ghi công, Chia sẻ tương tự

Tóm tắt

Đầu năm học 2026-2027, đến ngày 14/9 các địa phương còn thiếu hơn 3,9 triệu bản sách giáo khoa [1]. Theo Bộ GD&ĐT, số sách này đã được bổ sung đủ đến hết ngày 24/9 [2]. Vì vậy báo cáo không đề xuất cho đợt thiếu đã qua, mà cho hai tình huống: thiếu sách phát sinh trong năm học, và đầu năm học 2027-2028.

Photocopy sách là cách dễ nghĩ đến nhất khi thiếu, nhưng có thể vi phạm quyền tác giả. BookBridge dựa trên ba nhận định:

  • Thiếu sách là thiếu cục bộ và tạm thời. Sách sẽ về, và trong lúc chờ có nơi dư, nơi thiếu. Việc cần làm trước tiên là điều phối, không phải sao chép.
  • Học sinh cần được học, không nhất thiết mỗi em phải có một cuốn sách riêng ngay lập tức. Dùng chung sách tại lớp, học nhóm và phiếu học tập của giáo viên giữ được nhịp học trong vài tuần.
  • Các biện pháp tốt đã có sẵn, nhưng rời rạc. Thư viện cho mượn, sách điện tử, điều chuyển sách đều đã được dùng. Cái còn thiếu là một lớp thông tin chung nối các biện pháp đó lại.

Giải pháp gồm hai tầng: các biện pháp tại lớp học (Chương 3) và một ứng dụng web điều phối sách (Chương 4).

Chương 1.Giới thiệu

1.1. Bối cảnh

Năm học 2026-2027, cả nước dùng thống nhất một bộ sách giáo khoa [4]. Nguồn cung không kịp ở nhiều nơi. Theo Bộ GD&ĐT, đến 18 giờ ngày 14/9/2026 các địa phương còn thiếu 3.916.370 bản, khoảng 1,5% tổng nhu cầu [1].

  • 14/9
    3,92 triệu
  • 15/9
    hơn 2,7 triệu
  • 20/9
    0,78 triệu
  • 24/9
    Bộ báo cáo đã bổ sung đủ
Hình 1.1: Số bản sách giáo khoa còn thiếu trên cả nước, tháng 9/2026. Nguồn: số liệu Bộ GD&ĐT, dẫn theo [1] và [2].

1.2. Vấn đề

Con số tổng hợp giảm nhanh, nhưng ở từng nơi tình hình khác:

  • Đến ngày 25/9, thành phố Cần Thơ còn 3.026 học sinh thiếu ít nhất một bản sách, tương ứng 9.026 bản chưa được cung cấp [3].
  • Tại Huế, đầu năm học khoảng 21% học sinh chưa có đủ bộ sách bản in [1].
  • Phụ huynh không biết khi nào có sách và mua ở đâu. Một phụ huynh đi gần 250 km từ Sóc Trăng lên TP.HCM vẫn không mua đủ [3].
  • Khi không có thông tin, photocopy là cách tự xoay xở dễ nhất. Sao chép tài liệu có bản quyền khi chưa được chủ sở hữu quyền cho phép có thể phát sinh vấn đề pháp lý.

1.3. Mục tiêu và phạm vi

Câu hỏi cần trả lời: làm thế nào để học sinh tiếp tục học bình thường trong thời gian chờ sách, đồng thời tuân thủ quy định về bản quyền, tốn ít chi phí và triển khai được ngay?

Đợt thiếu đầu năm học 2026-2027 đã được xử lý bằng in bổ sung. Đề xuất này dành cho:

  • Thiếu phát sinh trong năm học: học sinh chuyển trường, sách hỏng hoặc mất, và những nơi vẫn còn thiếu cục bộ sau khi số liệu tổng hợp đã đủ, như trường hợp Cần Thơ ở trên.
  • Đầu năm học 2027-2028: nhà trường nhập số liệu trước khai giảng, để nơi dư và nơi thiếu thấy nhau trước khi đợt thiếu xảy ra.

1.4. Cấu trúc báo cáo

Chương 2 phân tích vấn đề và các giải pháp đã triển khai. Chương 3 trình bày giải pháp đề xuất. Chương 4 giới thiệu ứng dụng BookBridge. Chương 5 đánh giá giải pháp và nêu kế hoạch triển khai. Chương 6 kết luận.

Chương 2.Phân tích vấn đề và các giải pháp đã triển khai

2.1. Bản chất của sự thiếu hụt

  1. Thiếu về thời gian: sách chưa về, nhưng sẽ về. Giải pháp chỉ cần “bắc cầu” trong vài tuần, không cần thay thế sách.
  2. Thiếu về phân bổ: có nơi dư, có nơi thiếu. Chính Bộ GD&ĐT đã yêu cầu điều chuyển sách từ nơi dư đến nơi thiếu [5].
  3. Thiếu thông tin: Bộ GD&ĐT nêu nguyên nhân gồm dự báo nhu cầu chưa theo kịp thực tế và điều phối nguồn sách chưa đủ nhanh [6]. Nhà trường không biết khi nào sách về, đơn vị cung ứng không thấy nhu cầu theo từng trường, phụ huynh không biết nguồn tài liệu hợp pháp.

2.2. Ràng buộc pháp lý

Sách giáo khoa là tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, việc sao chép và phân phối tác phẩm cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền, trừ một số ngoại lệ có phạm vi hẹp và kèm điều kiện. Việc nhân bản hàng loạt để phát cho học sinh thay cho sách thật không nên được coi là thuộc phạm vi ngoại lệ.

Báo cáo không đưa ra ý kiến pháp lý. Trước khi áp dụng, nhà trường hoặc Sở nên tham vấn bộ phận pháp chế.

Nguyên tắc thiết kế: chỉ luân chuyển các bản sách in hợp pháp, và không tạo bản sao nếu chưa có văn bản cho phép.

2.3. Tiêu chí đánh giá giải pháp

  1. TC1. Liên tục học tập: học sinh không gián đoạn chương trình.
  2. TC2. Hợp pháp: tuân thủ quy định về quyền tác giả.
  3. TC3. Chi phí thấp: phụ huynh không phải trả thêm.
  4. TC4. Triển khai nhanh: áp dụng ngay tại trường, mở rộng được.
  5. TC5. Tận dụng nguồn lực sẵn có: công nghệ, thư viện, cơ chế chia sẻ.
  6. TC6. Tạm thời: có điểm kết thúc rõ ràng.

2.4. Các giải pháp đã triển khai và kết quả

Mục này xem xét các biện pháp đã được dùng thật, trong nước và ở nước ngoài, rồi đối chiếu với BookBridge.

2.4.1. In bổ sung và điều chuyển theo chỉ đạo của Bộ

Kết quả: Công văn 6128/BGDĐT-GDPT ngày 10/9/2026 yêu cầu các Sở rà soát đến từng cơ sở giáo dục và điều chuyển sách từ nơi dư đến nơi thiếu, hoàn thành trước ngày 15/9 [5]. Số sách thiếu giảm từ hơn 3,9 triệu bản (14/9) xuống hơn 776.000 bản (20/9), và được phát hành bổ sung đến hết ngày 24/9 [2].

Hạn chế: không đạt mốc 15/9. Đến 25/9, Cần Thơ vẫn còn 3.026 học sinh thiếu sách [3]. Phụ huynh không có kênh nào để biết khi nào sách về.

So với BookBridge: cùng hướng điều chuyển. Điểm khác: nhà trường tự cập nhật số liệu theo từng đầu sách, trường thiếu và trường dư thấy nhau trực tiếp, phụ huynh xem được ngày dự kiến.

2.4.2. Sách giáo khoa điện tử miễn phí

Kết quả: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cung cấp miễn phí sách điện tử từ lớp 1 đến lớp 12 tại taphuan.nxbgd.vn [7]. Hà Nội đưa sách điện tử lên ứng dụng iHanoi [1]. Chưa tìm thấy số liệu công bố về số học sinh thực sự học bằng bản điện tử (cần kiểm chứng).

Hạn chế: “Không phải gia đình nào cũng có máy tính, máy tính bảng hoặc Internet ổn định” [1]. Học sinh nhỏ tuổi không nên học chủ yếu trên thiết bị điện tử.

So với BookBridge: ứng dụng dẫn liên kết đến nguồn chính thức này, coi là biện pháp bổ trợ, không phải biện pháp chính.

2.4.3. Thư viện cho mượn, dùng chung, sách cũ

Kết quả: Trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Đắk Lắk) vận động học sinh chia sẻ bộ sách đã dùng năm trước, tập trung về thư viện cho các em chưa đủ sách mượn. Trường THCS Nguyễn Chơn (Đà Nẵng) thiếu khoảng 700 quyển lẻ và huy động được hơn 140 bộ sách cho học sinh khó khăn. Một số phân hiệu ở Huế có hai học sinh dùng chung một cuốn [1].

Hạn chế: mỗi trường tự xoay xở. Sách dư ở trường này không đến được trường khác đang thiếu.

So với BookBridge: Tầng 1 lấy đúng các cách làm này làm chuẩn. Tầng 2 bổ sung xếp lượt mượn và điều phối giữa các trường.

2.4.4. Giám sát giao sách công khai (Philippines)

Kết quả: chương trình Textbook Count, bắt đầu năm 2003, cho các tổ chức xã hội theo dõi việc giao sách đến trường. Các tổ chức có mặt tại 71% số lần giao, tình nguyện viên ghi nhận 95% lần giao không sai sót, giá sách giảm 40-50% [8].

Hạn chế: cần lực lượng tình nguyện lớn. Chương trình xử lý khâu giao nhận, không xử lý việc học trong lúc chờ sách.

So với BookBridge: bước “nhà trường xác nhận đã nhận lô giao” là phiên bản gọn của cách làm này.

2.4.5. Chỉ phát thêm sách (Kenya)

Kết quả: một thử nghiệm ngẫu nhiên ở nông thôn Kenya cho thấy phát sách không làm tăng điểm của học sinh trung bình. Chỉ nhóm học sinh vốn học khá được hưởng lợi [9].

So với BookBridge: có sách chưa đủ, cách tổ chức dạy và học cũng quan trọng. Vì vậy Tầng 1 có phiếu học tập và nhóm đôi bạn. Bối cảnh Kenya khác Việt Nam, nên chỉ dùng kết quả này để tham khảo.

Nhận xét: BookBridge không phát minh biện pháp mới. Các biện pháp trên đã có kết quả, nhưng diễn ra rời rạc và thiếu thông tin cho nhau. BookBridge nối chúng lại bằng một nguồn số liệu chung mà nhà trường, đơn vị cung ứng và phụ huynh cùng xem được.

Chương 3.Giải pháp đề xuất: BookBridge

3.1. Tổng quan

BookBridge gồm hai tầng. Tầng 1 áp dụng ngay trong ngày đầu tiên. Tầng 2 giúp giảm số học sinh cần đến Tầng 1.

3.2. Tầng 1: tại lớp học

Phi công nghệ, áp dụng ngay.

3.2.1. Tủ sách lớp dùng chung

Gom số sách lớp đang có vào một tủ tại lớp. Trong giờ học, mỗi bàn dùng chung một cuốn. Sách để lại lớp, không mang về.

Chi phí: 0 đồng. Người thực hiện: giáo viên chủ nhiệm.

3.2.2. Nhóm học đôi bạn

Ghép học sinh đã có sách với học sinh chưa có sách, ưu tiên các em ở gần nhà nhau, để cùng làm bài tập về nhà.

Chi phí: 0 đồng. Người thực hiện: giáo viên chủ nhiệm, ban đại diện cha mẹ học sinh.

3.2.3. Phiếu học tập giáo viên tự soạn

Giáo viên soạn phiếu bám theo mục tiêu bài học trong chương trình: câu hỏi, bài tập, tóm tắt ý chính bằng lời của giáo viên. Phiếu không chép lại nguyên văn sách.

Chi phí: in phiếu vài trang mỗi tuần, do nhà trường chi.

3.3. Tầng 2: nền tảng điều phối

Một ứng dụng web kết nối nhà trường, phụ huynh và đơn vị cung ứng. Ứng dụng không chứa nội dung sách, chỉ quản lý số lượng và di chuyển của các bản sách in hợp pháp. Chương 4 trình bày chi tiết.

3.4. Phương án dự phòng: in tạm có cấp phép

Nếu một đầu sách thiếu trên diện rộng và kéo dài, Sở hoặc nhà trường có thể đề nghị nhà xuất bản cho phép in tạm một phạm vi giới hạn, ví dụ các bài học của 3-4 tuần đầu. Điểm khác với tự photocopy: có văn bản cho phép của chủ sở hữu quyền, có kiểm soát số lượng và có thu hồi. Phương án này chậm và tốn kinh phí, nên không phải là một tầng của giải pháp.

Chương 4.Ứng dụng BookBridge

4.1. Ứng dụng giải quyết vấn đề gì

Bảng 4.1: Vấn đề thực tế và cách ứng dụng giải quyết

Vấn đề thực tếỨng dụng giải quyết thế nào
Không ai thấy trường nào thiếu đầu sách nào. Số tổng hợp báo đủ trong khi từng nơi vẫn thiếu [3].Mỗi trường nhập ba con số cho mỗi đầu sách: cần, đang có, để trong tủ mượn. Ứng dụng tính số thiếu, số đang về và số dư của từng trường.
Sách dư ở trường này không đến được trường bên cạnh đang thiếu.Ứng dụng tự ghép trường dư với trường thiếu cùng đầu sách, ưu tiên cùng khu vực. Trường thiếu gửi đề nghị, trường dư đồng ý, trường nhận xác nhận.
Đơn vị cung ứng không biết giao bao nhiêu, cho ai trước.Danh sách nhu cầu xếp theo số còn thiếu, đã trừ sách đang giao và phần bù được bằng sách dư. Đơn vị lên lịch giao ngay trên danh sách.
Phụ huynh không biết khi nào có sách, phải tự đi tìm mua [3].Phụ huynh xem đầu sách nào đã đủ, đầu sách nào đang về và ngày dự kiến. Trong lúc chờ: đăng ký mượn luân phiên, hoặc mở sách điện tử chính thức.

4.2. Người dùng và chức năng

Bảng 4.2: Người dùng và chức năng

Người dùngLàm được gì
Nhà trườngCập nhật nhu cầu và số sách hiện có. Xác nhận nhận lô giao. Xin hoặc nhường sách dư với trường khác. Duyệt yêu cầu mượn luân phiên.
Phụ huynh, học sinhXem sách của trường đã về chưa và ngày dự kiến. Mở sách điện tử từ nguồn chính thức. Đăng ký mượn sách luân phiên.
Nhà xuất bản, đơn vị phân phốiXem nhu cầu còn thiếu theo trường và đầu sách. Lên lịch và cập nhật trạng thái lô giao.

Khi triển khai thật, nhà trường và đơn vị cung ứng đăng nhập bằng tài khoản. Phụ huynh không cần tài khoản, chỉ xem trạng thái sách của trường mình. Bản demo cho chọn vai trò trực tiếp.

4.3. Ví dụ một lượt điều phối

Số liệu trong ví dụ lấy từ dữ liệu mẫu của bản demo, không phải số liệu thật.

  1. Trường nhập số liệu. Trường Tiểu học Ánh Dương cần 150 cuốn Toán 1, đang có 110. Trường Tiểu học Sao Mai cùng khu vực cần 180, đang có 205.
  2. Ứng dụng ghép cặp. Ánh Dương thấy gợi ý: Sao Mai đang dư 25 cuốn. Trường bấm “Gửi đề nghị”.
  3. Hai trường thỏa thuận. Sao Mai bấm “Đồng ý” và chuyển sách. Ánh Dương bấm “Xác nhận đã nhận”. Số sách của hai trường tự cập nhật.
  4. Phần còn lại mới cần giao thêm. Ánh Dương còn thiếu 15 cuốn. Đơn vị cung ứng thấy đúng con số này và lên lịch giao. Phụ huynh thấy ngày dự kiến.

4.4. Bản demo và cách thử

Bản demo có 12 trường ở 3 khu vực, 14 đầu sách và 3 đơn vị cung ứng. Tên trường và đơn vị là giả định. Ba tình huống để thử:

Trang Giới thiệu trong ứng dụng có số liệu toàn vùng tính từ dữ liệu hiện tại.

4.5. Công nghệ

Ứng dụng viết bằng HTML, CSS và JavaScript thuần, chạy miễn phí trên GitHub Pages, dữ liệu lưu trên trình duyệt. Để nhiều trường dùng chung dữ liệu, chạy kèm máy chủ server.py (chỉ cần Python, không cần cài thư viện).

Chương 5.Đánh giá và kế hoạch triển khai

5.1. Đối chiếu với tiêu chí

Bảng 5.1: Đối chiếu BookBridge với sáu tiêu chí

Tiêu chíBookBridge đáp ứng thế nào
TC1. Liên tục học tậpNgày đầu tiên: tủ sách lớp và phiếu học tập. Sau vài ngày: sách dư được luân chuyển, sách điện tử cho gia đình có thiết bị.
TC2. Hợp phápKhông tạo bản sao. Chỉ luân chuyển và cho mượn bản in hợp pháp. Sách điện tử chỉ được dẫn liên kết.
TC3. Chi phí thấpPhụ huynh không mất phí. Nhà trường chi tiền in phiếu học tập. Ứng dụng chạy miễn phí trên GitHub Pages.
TC4. Triển khai nhanhTầng 1 không cần chuẩn bị gì. Ứng dụng mở bằng trình duyệt điện thoại, không cần cài đặt.
TC5. Tận dụng nguồn lựcDùng thư viện trường, sách dư sẵn có, nguồn điện tử chính thức, mạng lưới giáo viên và cha mẹ học sinh.
TC6. Tạm thờiCó điều kiện kết thúc rõ ràng (mục 5.3).

5.2. Rủi ro và cách giảm thiểu

Bảng 5.2: Rủi ro và cách giảm thiểu

Rủi roGiảm thiểu
Nhà trường nhập số liệu sai hoặc chậmChỉ cần 3 con số cho mỗi đầu sách. Xác nhận nhận hàng sẽ tự cập nhật số liệu.
Sách mượn bị hư hỏng hoặc thất lạcMượn ngắn ngày, ghi nhận theo tên và lớp. Sách luân chuyển được ghi nhãn trường gốc.
Gia đình không có thiết bị hoặc InternetTầng 1 không cần công nghệ. Giáo viên chủ nhiệm báo tình trạng sách qua họp lớp hoặc giấy báo.
Lộ dữ liệu cá nhân học sinhChỉ thu tên và lớp. Xóa dữ liệu mượn khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp.

5.3. Điều kiện kết thúc

BookBridge là giải pháp chuyển tiếp và kết thúc khi tất cả đầu sách của trường có “Còn thiếu = 0” trên ứng dụng. Khi đó:

  • Đóng chức năng mượn luân phiên, thu sách về thư viện, trả sách luân chuyển về trường gốc nếu hai bên đã thỏa thuận.
  • Xóa dữ liệu mượn của học sinh. Số liệu tổng hợp, không có thông tin cá nhân, có thể giữ lại để dự báo nhu cầu năm sau.

5.4. Kế hoạch triển khai

Kế hoạch dưới đây dành cho đầu năm học 2027-2028. Với thiếu sách phát sinh giữa năm, nhà trường bắt đầu từ bước “Tuần 1”.

  1. Tuần 0 (trước khai giảng)Nhà trường nhập nhu cầu và số sách hiện có. Giáo viên chủ nhiệm lập tủ sách lớp. Tổ bộ môn soạn phiếu học tập cho 2 tuần đầu.
  2. Tuần 1Ghép nhóm đôi bạn. Các trường gửi và duyệt đề nghị luân chuyển sách dư. Thư viện mở tủ sách mượn luân phiên.
  3. Tuần 2-4Đơn vị cung ứng giao sách theo lịch trên ứng dụng. Nhà trường xác nhận khi nhận.
  4. Khi sách về đủKích hoạt điều kiện kết thúc (mục 5.3). Tổng kết số liệu để dự báo nhu cầu năm sau.

Chương 6.Kết luận

BookBridge không cố thay thế sách giáo khoa. Mục tiêu là dùng hiệu quả hơn những cuốn sách hợp pháp đã có và giữ nhịp học cho đến khi sách chính thức về đủ. Thực tế tháng 9/2026 cho thấy các biện pháp riêng lẻ đều có tác dụng, nhưng thiếu thông tin chung. BookBridge bổ sung đúng phần đó, và sẵn sàng cho thiếu sách phát sinh trong năm cũng như cho đầu năm học 2027-2028.

Dùng thử ứng dụng BookBridge

Tài liệu tham khảo

  1. “Mở rộng cách tiếp cận sách giáo khoa cho học sinh,” Giáo dục và Thời đại, 16/9/2026. [Trực tuyến]. Địa chỉ: giaoducthoidai.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  2. “Bộ GD-ĐT: Đã bổ sung đủ 776.259 bản sách giáo khoa còn thiếu, sẽ kiểm điểm từng người liên quan,” Tuổi Trẻ, 24/9/2026. [Trực tuyến]. Địa chỉ: tuoitre.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  3. C. X. Lương, “Hết tháng 9, nhiều học sinh và giáo viên vẫn chưa có đủ sách giáo khoa,” Dân trí, 30/9/2026. [Trực tuyến]. Địa chỉ: dantri.com.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  4. “Thiếu sách giáo khoa: Cần thay đổi cách đặt hàng và phân phối sách,” Tuổi Trẻ, 13/9/2026. [Trực tuyến]. Địa chỉ: tuoitre.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  5. “Yêu cầu hoàn thành cung ứng sách giáo khoa còn thiếu cho học sinh trước 15/9/2026” (về Công văn 6128/BGDĐT-GDPT), LuatVietnam, 2026. [Trực tuyến]. Địa chỉ: luatvietnam.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  6. “Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu nguyên nhân thiếu sách giáo khoa, khẳng định không để lặp lại trong những năm học sau,” Nhân Dân, 15/9/2026. [Trực tuyến]. Địa chỉ: nhandan.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  7. “Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam cung cấp sách giáo khoa điện tử miễn phí,” Tuổi Trẻ, 24/5/2025. [Trực tuyến]. Địa chỉ: tuoitre.vn. Truy cập: 1/10/2026.
  8. G-Watch, “Delivering educational textbooks to schools in the Philippines: Textbook Count 1-2-3.” [Trực tuyến]. Địa chỉ: g-watch.org. Truy cập: 1/10/2026.
  9. P. Glewwe, M. Kremer, và S. Moulin, “Many children left behind? Textbooks and test scores in Kenya,” American Economic Journal: Applied Economics, tập 1, số 1, tr. 112-135, 2009. doi:10.1257/app.1.1.112.